Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2010

Răng sâu được chữa trị như thế nào?

sau rang lam sao Răng sâu được chữa trị như thế nào? Tất cả các răng sâu đều nên chữa sớm, khám răng định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện lỗ sâu là tốt nhất. Ở trẻ em có thể trám răng phòng ngừa bằng chất sealant. Nếu phát hiện sâu răng sớm, lỗ sâu còn nhỏ thì răng được bảo tồn lâu hơn, có khi suốt đời. Không phải trám răng là chấm dứt, là hết sâu răng, một số đông bệnh nhân thường nghĩ là trám răng là sẽ hết sâu răng.

Thực ra trám răng chỉ là tạm thời chận đứng sâu răng, và răng vẫn thường xuyên bị sâu răng đe dọa, nếu không chải rửa kỷ thì răng sẽ sâu tái phát, lần sau lỗ sâu sẽ to hơn lần trước.

Nếu sâu nặng răng sẽ đau nhức phải lấy tủy và việc điều trị phải khó hơn và mất nhiều thời gian hơn. Nếu răng bị bể to không thể trám được thì phải nhổ đi, và sau đó phải làm răng giả tốn kém hơn mà lực ăn nhai cũng yếu hơn răng thật.

Răng sâu tiến triển qua nhiều giai đoạn:

- Viêm ngà: Sâu nông ở lớp ngà chưa đến tủy răng

- Viêm tuỷ cấp tính: Đau nhức dữ dội

- Viêm tuỷ mạn tính: Đau dai dẵng, kéo dài trong nhiều tuần

- Viêm mô tế bào do răng sâu nhiễm trùng: Sưng má, mặt, sàn miệng

- Răng chết tủy và nhiễm trùng gốc: có lỗ dò mủ, có nang răng

- Viêm xương hàm: xương hàm chết từng phần có lỗ dò ra má.

Ở những giai đoạn nhẹ và cấp tính, răng sâu được chữa trị trám lại dễ dàng. Nhưng đến giai đoạn kinh niên việc chữa trị khó hơn, có khi phải can thiệp phẫu thuật.

Việc chữa trị sâu răng cần phải có chẫn đoán chính xác, nếu chẩn đoán đúng thì việc điều trị mới đúng. Chỉ có các BS răng hàm mặt mới khám, chẩn đoán được các giai đoạn và định bệnh chính xác.


Bệnh của nướu

k

Khi nướu bị sưng, đỏ, chảy máu, rỉ dịch… bạn đừng coi thường. Nếu để kéo dài, nó có thể dẫn đến viêm nha chu.

Những loại bệnh về nướu thường do các vi khuẩn mảng bám, tích luỹ trong kẽ răng gây ra. Những mảng bám dù rất nhỏ, vẫn có thể tạo ra độc tố gây viêm nướu xung quanh răng. Khi bị viêm, nướu sẽ sưng tấy, đau hoặc viêm nhiễm ở quanh chân răng.

Dưới đây là những thông tin bạn cần biết về căn bệnh này:

Sưng nhẹ ở viền và gai nướu là biểu hiện của viêm nướu ở giai đoạn đầu. Thường gặp và xuất hiện trước nhất là viêm nướu mãn tính do kích thích tại chỗ bởi vôi răng, mảng bám răng, thức ăn tích luỹ trong kẽ răng… Viêm nưới dạng này thường khu trú ở gai nướu, viềm nướu của răng. Khi quá trình viêm diễn ra liên tục, viền nướu trở nên tròn bóng, các gai nướu căng phồng.

kem 200x300 Bệnh của nướu

Để phòng ngừa viêm nướu, quan trọng nhất là

vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng

Đỏ nhạt là màu sắc ban đầu của nướu khi bị viêm. Khi quá trình viêm kéo dài và tăng dần, nướu sẽ có màu đỏ đậm hoặc xanh xám. Nướu sẽ không còn dai chắc mà sẽ trở nên mềm và bở. Thời gian viêm nướu càng kéo dài, độ săn chắc của nướu càng giảm. Nướu thường có triệu chứng chảy máu khi đánh răng. Ở mức cao hơn có thể bị chảy máu nướu tự phát và rỉ dịch ở nướu. Tuy nhiên, dù chảy máu, rỉ dịch, nướu vẫn không đau nhức trừ khi viêm nướu bột phát thành viêm cấp tính.

Vệ sinh răng miệng kém là nguyên nhân làm tích tụ mảng bám quanh răng, nhất là ở khe nướu, làm khởi phát và kéo dài các phản ứng viêm. Bất cứ tình trạng nào có thể gây tích tụ hoặc hình thành mảng bám ở vùng viền nướu cũng gây viêm nướu mãn tính. Có thể mảng bám vi khuẩn hình thành từ cao răng, mảng trám, thức ăn dính ở kẽ răng, việc sử dụng đường thường xuyên.

Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác gây viêm nướu mãn tính như: thở bằng miệng, các kích thích từ hàm răng giả tháo lắp, lưỡi lớn, thắng môi và má bám thấp…

Viêm nướu do kích thích tại chỗ dễ chuyển sang viêm nướu hoại tử lở loét cấp nếu không được điều trị sớm. Khi ấy, bè mặt sang thương có một lớp màng màu trắng đục hay vàng nhạt, khó tróc, nếu tróc sẽ gây chảy máu. Bên cạnh đó, miệng của bệnh nhân có mùi hôi nặng, hơi thở và vị giác có mùi kim loại…

Lúc này, người bệnh thường bị sưng hạch và sốt cao, có cảm giác đau rát ở vùng nướu, không ăn uống được, nhất là các thức ăn nóng, cứng và nhiều gia vị. Tình trạng nặng hơn có thể hoại tử cả vùng nướu dính và mô nha chu sâu bên dưới, gây lộ chân răng, tiêu và biến dạng xương ổ răng.

Để phòng ngừa viêm nướu, quan trọng nhất là vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng. Nên đánh răng sau khi ăn trưa, trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy. Sử dụng chỉ nha khoa, tăm xỉa răng để loại bỏ thức ăn bám sâu trong các kẽ răng. Tuy nhiên,cần xỉa răng cẩn thận, tránh để đầu tăm làm tổn thương chân răng. Đến cơ sở nha khoa lấy cao răng 6 tháng/lần, nhằm hạn chế mảng bám hình thành trên răng. Tuy nhiên, bạn không nên lấy cao răng thường xuyên vì dễ làm viêm nướu răng, viêm chân răng dẫn đến viêm xương hàm.

Khi có biểu hiện của bệnh viêm nướu, bạn cần đến các cơ sở nha khoa để lấy cao răng, đánh bóng răng, tháo bỏ những miếng trám răng bị sai, trám các răng sâu… Điều trị viêm nướu mãn tính do kích thích tại chỗ là cách hạn chế và loại bỏ các yếu tố gây viêm. Bản thân tổn thương viêm nướu tự có những phản ứng phục hồi. Tuy nhiên, nếu tình trạng viêm nướu tiếp diễn do các kích thích tại chỗ sẽ làm quá trình tự lành thương không được trọn vẹn.

(Theo TTGD)

Viêm lợi do đâu?

ve sinh rang mieng tre em  Viêm lợi do đâu? – Viêm lợi mãn tính sẽ dẫn đến rụng răng. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên căn bệnh này nhưng chủ yếu vẫn là vệ sinh răng lợi kém. Để có nụ cười rạng rỡ, bạn hãy lắng nghe lời khuyên của các nha khoa dưới đây.

1. Các dạng viêm lợi thường gặp

Viêm lợi có 2 dạng chủ yếu:

- Viêm lợi cục bộ. Chứng viêm này không gây quá đau đớn cho người bệnh nhưng rất dễ tái phát.

- Viêm cận răng: ảnh hưởng tới tất cả cấu trúc bảo vệ răng. Loại viêm này lan rộng và ăn sâu vào trong lợi khiến người bệnh đau đớn. Tuy nhiên một khi bệnh được chữa khỏi, khả năng tái phát là rất ít.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân chủ yếu gây nên 2 loại viêm lợi trên chính là các mảng bám trên răng. Còn nguyên nhân gây nên vi khuẩn chính là:

- Không quan tâm tới vệ sinh răng miệng: Khi các mảng bám không được thường xuyên làm sạch, vi khuẩn sẽ tấn công đến tận chân răng và sản sinh tại đó các enzym có khả năng phá huỷ sự liên kết của các biểu mô (nối lợi và răng) và gây ra viêm lợi.

- Thuốc lá, rượu và chế độ dinh dưỡng mất cân bằng: thuốc lá, rượu, đồ ăn ngọt, đồ ăn quá nóng hoặc quá lạnh… sẽ gây nên những mảng bám trên răng, từ đó tạo thuận lợi cho bệnh viêm lợi tiến triển.

- Thường xuyên ăn thức ăn quá mềm: bạn làm cho hàm răng của mình lười hoạt động và làm cho cấu trúc bảo vệ răng yếu đi.

- Thay đổi hooc mon khi mang bầu: Có rất nhiều sự thay đổi hooc mon ở chị em trong giai đoạn bầu bí và theo cơ chế tự nhiên, sẽ làm giảm sức đề kháng của lợi đối với các vi khuẩn bám trên răng.

- Tụt lợi: khi lợi và răng không khít, các thức ăn và các mảng bám của răng sẽ nằm lại ở đây.

- Giảm tiết nước bọt: nguyên nhân là do tuổi tác, dùng các loại thuốc (chống trầm cảm, lợi niệu, histamin…) hoặc các bệnh làm giảm việc tăng tiết nước bọt, gây khô miệng, dẫn đến không loại bỏ được các mảng bám trên răng.

3. Phòng bệnh viêm lợi hiệu quả

Để phòng các bệnh về răng lợi, chúng ta nên thực hiện các lời khuyên sau của bác sỹ nha khoa:

- Đánh răng ngay sau khi ăn, hoặc ít nhất 2 lần/ngày vào buổi sáng khi ngủ dậy và tối trước khi đi ngủ.

- Dùng chỉ tơ nha khoa để lấy thức ăn thừa từ các kẽ răng.

- Lựa chọn kem đánh răng có chứa flo và các chất tốt cho răng, lợi

- Lựa chọn bàn chải đánh răng mềm, có thể đánh sạch cả những kẽ răng, những răng trong cùng mà không tổn thương đến lợi.

- Lấy cao răng định kỳ hàng năm

- Không hút thuốc lá và uống rượu

- Không ăn nhiều đồ ăn ngọt, nước giải khát có đường đặc biệt trước khi đi ngủ.

- Sử dụng thường xuyên các thực phẩm tốt cho răng

- Đi khám định kỳ răng lợi 6 tháng/lần

- Đối với trẻ nhỏ, các bà mẹ nên lau lợi cho con bằng nước muối sinh lý từ khi chưa có răng.

- Không ăn những thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, để tránh làm tổn thương men răng và lợi…

Ngay khi bạn thấy những dấu hiệu bất thường trên răng và lợi, hãy lập tức đến khám nha sỹ. Sâu răng và viêm lợi càng được điều trị sớm, khả năng khỏi hoàn toàn càng cao.

Dung Nhi

Theo Doctissimo

Tìm hiểu về tật nghiến răng

nghien rang 150x150 Tìm hiểu về tật nghiến răng Nghiến răng là một hoạt động cận chức năng của hệ thống nhai. (gọi là hoạt động cận chức năng là vì cũng là hoạt động của hệ thống nhai với sự tham gia của tất cả các yếu tố thần kinh – cơ, nhưng không nhằm mục đích thực hiện chức năng).

* Nghiến răng xảy ra khá phổ biến, chiếm 10% dân số trưởng thành. Thường người bệnh không biết mình có nghiến răng vì nó chỉ xảy ra lúc ngủ. Bệnh nhân thường chỉ đi khám bệnh vì những hậu quả của nghiến răng gây ra hơn là triệu chứng nghiến răng, mặc dù triệu chứng nghiến răng gây khó chịu rất nhiều cho người thân.
* Nghiến răng là vấn đề còn đang tranh cãi rất nhiều, ngay cả định nghĩa về nghiến răng cũng như những tiêu chuẩn về chẩn đoán vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Những vấn đề trình bày ở đây là những ý kiến đúc kết từ các concensus về nghiến răng (tức nghiên ý kiến được đồng tình nhiều nhất).

* Mặc dù nghiến răng có nguyên nhân chủ yếu là từ bệnh học thần kinh, nhưng triệu chứng lâm sàng của nghiến răng chủ yếu thể hiện ở hệ thống nhai, bao gồm các triệu chứng ở răng, mô nha chu, cơ nhai và khớp thái dương hàm. Và điều trị cho đến nay chủ yếu do Bác sĩ nha khoa phụ trách.

Biểu hiện ở răng và mô nha chu:
1. Mòn răng: Tùy mức độ nghiến răng, thời gian nghiến răng và đô cứng mô răng mà mức đô mòn răng là nhiều hay ít. Nhiều trường hợp các răng cối mòn đến lô tủy, các răng cửa mòn đến :hơn 2/3 chiều cao của răng.
2. Nứt, gãy răng: Nứt gãy răng cũng là một dấu hiệu của nghiến răng. Cường độ lực cao, tác động lên những vùng mất cấu trúc chịu lực của răng là nguyên nhân của gãy nứt. Tình trạng gãy, nứt có thể khu trú ở phần thân răng, hoặc lan xuống chân răng. Trường hợp nứt, gãy rõ ràng có thể thấy dễ dàng, nhưng cũng có nhiều trường hợp rất khó chẩn đoán. Dấu hiệu duy nhất của những trường hợp này là ê buốt không rõ nguyên nhân. Các bác sĩ nha khoa ít kinh nghiệm cũng rất dễ bỏ sót những trường hợp này.
3. Ê buốt răng: Có thể do mòn răng hoặc gãy, nứt răng. Nếu kiểm tra không thấy mòn răng thì cần phải xem xét có tình trạng gãy nứt xảy ra hay không.
4. Lung lay răng: Nếu mô nha chu suy yếu, nghiến răng có thể biểu hiện bởi tình trạng lung lay răng. Trên phim X quang sẽ có dấu hiệu tiêu xương.
Biểu hiện ở hệ thống cơ nhai:

* Biểu hiện chủ yếu trên hệ thống cơ nhai là tình trạng đau cơ. Do co thắt với cường độ mạnh, các sản phẩm thoái biến sinh ra không kịp đào thải, còn ứ đọng trong cơ gây nên đau cơ. Một số trường hợp có thể có dấu hiệu phì đại cơ nhai.

* Cơ nhai bị ảnh hưởng rõ ràng và dễ thấy nhất là cơ cắn, do vậy, bệnh nhân thường sẽ có cảm giác đau âm ỉ hai bên vùng má, gần góc hàm.

Biểu hiện ở khớp thái dương hàm :

* Khớp thái dương hàm cũng bị quá tải trong trường hợp nghiến răng. Lực nhai gây ra sẽ tác động vào hệ răng và khớp thái dương hàm. Lực tác động lên răng làm mòn răng, gãy nứt răng, lung lay răng… đồng thời tác động lên khớp gây ra những tổn thương cấu trúc khớp. Tùy mức độ tổn thương khớp mà bệnh nhân sẽ có nhiều biều hiện khác nhau: đau khớp, tiếng kêu vùng khớp, rối loạn vận động (há miệng lệch, há miệng hạn chế…)

Biểu hiện khác:

* Ngoài những triệu chứng chủ yếu ở bộ máy nhai đã nêu, bệnh nhân còn có thể có dấu hiệu đau đầu, cùng những biểu hiện về tâm lý như lo lắng, căng thẳng…

Và với tất cả các triệu chứng trên chúng ta đều cần phải được khám và điều trị.

* Vấn đề nguyên nhân của nghiến răng gây khá nhiều tranh cãi từ trước đến nay. Hiện tại, hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng rằng nghiến răng do nhiều nguyên nhân khác nhau phối hợp gây ra, bao gồm các yếu tố tại chỗ (rối loạn khớp cắn), yếu tố tâm lý (stress, lo âu, căng thẳng…) và yếu tố bệnh lý thần kinh. Trước đây, yếu tố tại chỗ được xem là yếu tố chính gây ra nghiến răng, rồi sau đó cho rằng yếu tố tâm lý mới là nguyên nhân, nhưng những nghiên cứu gần đây lại cho rằng yếu tố bệnh lý thần kinh lại là yếu tố chính.

Yếu tố tại chỗ

* Vướng cộm khớp cắn được cho là nguyên nhân của nghiến răng trong một thời gian dài. Hãy tưởng tượng từng cặp răng như từng cặp cối xay. Hệ thống răng sẽ bao gồm nhiều cặp cối xay và chúng phải hoạt động đồng bộ với nhau. Vướng cộm khớp cắn làm cản trở hoạt động đồng bộ này và nghiến răng là một cách phản ứng của cơ thể nhằm loại bỏ những vướng cộm này. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng những vướng cộm khớp cắn không phải là nguyên nhân chính của nghiên răng. Nghiên cứu so sánh những người nghiến răng cho thấy không phải ai cũng có vướng cộm khớp cắn. Và ngược lại, rất nhiều người có vướng cộm khớp cắn nhưng không hề có nghiến răng. Đồng thời cũng không có nghiên cứu nào chứng minh được rắng vướng cộm khớp cắn là nguyên nhân của nghiến răng. Như vậy, vai trò của nó (nếu có) chỉ là vai trò phụ, chứ không phải là vai trò chính.

Yếu tố tâm lý

* Yếu tố tâm lý cũng được cho là nguyên nhân ủa nghiến răng trong một thời gian. Những người nghiến răng thường hay lo lắng. Và nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy stress cũng là một yếu tố quan trọng ở những người nghiến răng. Tuy nhiên những nghiên cứu chủ yếu thuộc loại nghiên cứu phỏng vấn. Những nghiên cứu gần đây, sử dụng điện cơ đồ, điện não đồ, điện tâm đồ phối hợp trong nghiên cứu giấc ngủ cho thấy rằng thực sụ không có liên quan giữa stress và nghiến răng. Chỉ có yếu tố lo lắng là có ý nghĩa thống kê trong lien quan với nghiến răng.

Yếu tố bệnh học thần kinh

* Yếu tố bệnh học thần kinh ngày càng được lưu ý nhiều hơn và được xem là nguyên nhân chính của nghiến răng. Ví dụ như nghiến răng có liên quan đến những rối loạn giấc ngủ, những thay đổi sinh hóa trong não, một số thuốc, sau chấn thương sọ não, nghiện rượu, hút thuốc… và ngay cả yếu tố di truyền hiện nay cũng xếp vào nhóm này.

* Nghiến răng chủ yếu xảy ra trong giấc ngủ, và có liên quan mật thiết đến đáp ứng tỉnh thức (arouse response) của cơ thể. Những ghi nhận liên quan giữa nghiến răng và đáp ứng tỉnh thức cho thấy 86% trường hợp nghiến răng xảy ra trong giai đoạn này. Đáp ứng tỉnh thức đặc trưng bởi giấc ngủ kém sâu, nhịp tim tăng, nhịp thở tăng và có những vận động như xoay người, co chân, co tay… trong khi ngủ. Mớ, mộng du… cũng là những hiện tượng xảy ra trong giai đoạn này. Những hiện tượng này còn gọi là hiện tượng cận giấc ngủ (parasomnia) và nghiến răng cũng được xem là một hiện tượng cận giấc ngủ.

* Đặc biệt những nghiên cứu gần đây xác nhận có sự liên quan giữa rối loạn hệ thống dẫn truyền thần kinh trung ương với nghiến răng. Khả năng là có tình trạng mất cân bằng giữa các đường dẫn truyền trực tiếp và gián tiếp trong hạch nền, nơi tập trung những nhân dưới vỏ có nhiệm vụ phối hợp và điều hòa các động tác. Sự mất thăng bằng là do rối loạn vận chuyển các dẫn xuất dopamine gây nên. Phát hiện này giải thích cho rất nhiều trường hợp nghiến răng do sử dụng thuốc lắc (ectasy), nghiện thuốc lá, hoặc một số thuốc điều trị bệnh tâm thần hay bệnh thần kinh gây ra. Amphetamine (ectasy) có tác dụng làm gia tăng nồng độ dopamine trong não, hoặc nicotine (trong thuốc lá) lại có tác dụng kích thích hệ dopaminergic…đã giúp giải thích những ghi nhận liên quan giữa người hút thuốc lá hay sử dụng amphetamine với nghiến răng.

Yếu tố di truyền

* Trước đây di truyền cũng được xem là nguyên nhân của nghiến răng. Nghiên cứu với cỡ mẫu lớn nhất về liên quan giữa di truyền và nghiến răng là của CHRISTER HUBLIN và cộng sự (1998) dựa trên phỏng vấn (questionnaire) trên 1298 cặp sinh đôi cùng trứng và 2419 cặp sinh đôi khác trứng từ 33 đến 60 tuổi. Tỉ lệ nghiến răng xảy ra liên quan đến di truyền chiến 39 – 64%. Tuy nhiên, Michalowicz và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 250 cặp sinh đôi bằng cách phỏng vấn và nghiên cứu lâm sàng lại cho kết quả ngược lại. Do vậy, vẫn chưa thể kết luận được là di truyền có liên quan đến nghiến răng hay không.

Có 2 cách điều trị được áp dụng hiện nay là điều trị thuốc và điều trị bằng khí cụ miệng.

Điều trị thuốc:

* Thuốc được sử dụng trong điều trị nghiến răng có thể là thuốc uống, thoa thoa và thuốc chích. Thuốc uống là loại thuốc có tác dụng giảm lo âu như buspirone, thường sử dụng trong trường hợp nghiến răng là tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm. Những trường hợp nghiến răng khác không nên sử dụng thuốc này.

* Thuốc chích là một loại thuốc có tác dụng làm liệt cơ: Botox (thường sử dụng trong thẩm mỹ để xóa nếp nhăn). Thuốc này sử dụng chích vào cơ cắn có tác dụng trong vòng 4 – 6 tháng. Nhiều nghiên cứu cho thấy đây là một giải pháp khá hiệu quả trong nhiều trường hợp, như sau chấn thương, lạm dụng amphetamine (thuốc lắc)…

* Thuốc thoa là một hỗn hợp gồm các thuốc dãn cơ, kháng viêm, an thần với thành phần chính gồm : cyclobezaprin, có tác dụng làm giảm co thắt cơ, kết hợp với kháng viêm loại nonsteroid (keto-profen) cùng với an thần là diazepam. Thuốc này được thử nghiệm có tác dụng tốt trong nhiều trường hợp. Đây là một loại thuốc mới, đăng lý bản quyền vào tháng 10/2003.

Điều trị bằng khí cụ miệng

* Điều trị khí cụ miệng (máng nhai) đã được thực hiện từ lâu với những hiệu quả được chứng minh trên lâm sàng. Mục đích của máng nhai nhằm làm giảm khả năng mòn răng, gãy nứt răng do nghiến răng gây ra. Đồng thời, máng nhai cũng làm giảm tình trạng co thắt của các cơ nhai. Việc điều trị nghiến răng bằng máng nhai đòi hỏi phải mang máng nhai trong một thời gian dài. Và khi không mang máng nhai, người ta thấy nghiến răng xuất hiện trở lại. Cho đến nay máng nhai vẫn là phương pháp chính trong điều trị nghiến răng trên thế giới. Tuy nhiên, không phải máng nhai hiệu quả trong tất cả các trường hợp nghiến răng (Theo một số nghiên cứu gần đây cho thấy máng nhai không có hiệu quả trong một số trường hợp).

* Nghiến răng không chỉ gây khó chịu cho người thân mà còn gây những tổn hại ngay chính người bệnh. Những tổn hại này cần phải được ngăn ngừa trước khi quá muộn. Hãy đến các BS chuyên khoa đề được khám và tư vấn điều trị ở giai đoạn sớm là giải pháp tối ưu. Một ngành chuyên sâu nghiên cứu và điều trị nghiến răng trong ngành nha khoa là chuyên khóa cắn khớp học. Tuy nhiên, hiện nay, chuyên ngành này chưa phát triển lắm ở Việt nam.

Thạc sĩ Trần Ngọc Quảng Phi